Trong một hội nghị của ngành kiểm sát gần đây, nhiều ý kiến đã nhìn nhận chất lượng kháng nghị bản án sơ thẩm còn thấp. Có vụ VKS thụ động, không làm gì trong khi lẽ ra phải kháng nghị. Có vụ VKS kháng nghị nhưng tòa không chấp nhận. Nhiều vụ khác thì VKS lại phải rút kháng nghị vì nhận định chưa chính xác.
Đánh giá sai
Không ít vụ tòa sơ thẩm bỏ lọt người, lọt tội hoặc vi phạm tố tụng nghiêm trọng nhưng VKS sau đó đã không làm gì cả. Chẳng hạn vụ bị cáo B. giao cấu với trẻ em. Trước đây, khi ở quê, có lần B. túm tay cháu Y. kéo vào lều dùng sức mạnh để làm bậy. Sau đó, B. còn rủ cháu Y. vào TP.HCM sinh sống và tiếp tục giao cấu nhiều lần. Tòa sơ thẩm chỉ xử B. về tội giao cấu với trẻ em trong khi B. còn có dấu hiệu hiếp dâm trẻ em ở lần phạm tội đầu tiên. Chỉ sau khi nạn nhân kháng cáo, cấp phúc thẩm mới sửa sai bằng cách vừa xử phần kháng cáo về tội giao cấu với trẻ em, vừa khởi tố vụ án về tội hiếp dâm trẻ em.
Hay như vụ hai bị cáo Q., T. ở Lào Cai đánh chết người. Trong vụ án, Q. là người khởi xướng, kích động T. phạm tội nhưng tòa sơ thẩm lại nhận định vai trò của Q. thấp hơn T. và phạt Q. bảy năm tù, T. chín năm tù về tội cố ý gây thương tích. VKS sau đó cũng không kháng nghị. Chỉ có gia đình nạn nhân kháng cáo, được cấp phúc thẩm chấp nhận tăng hình phạt đối với Q.
Theo nhiều kiểm sát viên, nhiều trường hợp khác VKS sau khi kháng nghị lại phải rút kháng nghị và không ít kháng nghị bị tòa bác vì thiếu thuyết phục. Đó là chưa kể nhiều kháng nghị còn lạc đề, chưa bám sát vào căn cứ kháng nghị.
Có trường hợp bị cáo giết người vì lạc hậu, kém hiểu biết nhưng VKS kháng nghị lại yêu cầu áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội có tính chất côn đồ. Có trường hợp tòa sơ thẩm không tuyên về án phí, không nghị án về hình phạt nhưng khi kháng nghị VKS lại không nhìn ra. Hoặc như vụ bị cáo H. ở TP.HCM bị tòa xử về tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, VKS kháng nghị lại yêu cầu xử tăng hình phạt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đáng lý ra VKS phải yêu cầu cấp phúc thẩm sửa tội danh từ cố ý làm trái sang tội lừa đảo thì mới đúng.
Năng lực yếu
Mổ xẻ nguyên nhân, hầu hết các ý kiến đều cho rằng đầu tiên là xuất phát từ khâu năng lực, trình độ cán bộ, kiểm sát viên còn bất cập. Nhiều trường hợp kiểm sát viên chưa nắm vững luật và các văn bản hướng dẫn thi hành nên thiếu sắc bén, tinh thông về nghiệp vụ. Do vậy, khi giữ quyền công tố không thể “bắt giò” các vi phạm của tòa. Mặt khác, trách nhiệm của kiểm sát viên còn chưa cao nên khi nghiên cứu án còn sơ sài, qua loa.
Một vấn đề nữa là nhiều kháng nghị còn mang tính chủ quan, cảm tính, thể hiện sự bức xúc khi có quan điểm khác nhau trong phiên tòa mà chưa được nghiên cứu sâu, cụ thể, toàn diện. Trường hợp này, phía công tố thường phải rút kháng nghị hoặc bị tòa phúc thẩm bác.
Ở một khía cạnh khác, các kiểm sát viên cũng nhìn nhận có nhiều quy định pháp luật chưa rõ ràng, cụ thể, chưa có hướng dẫn kịp thời nên gây ra nhiều cách hiểu khác nhau. Có nhiều vụ tòa giữ quan điểm của tòa, viện giữ quan điểm của viện, không ai chịu ai nên hồ sơ cứ chuyển tới chuyển lui.
Chẳng hạn chế định về đồng phạm và xử lý đồng phạm, hiện chưa có hướng dẫn nào khác ngoài quy định của luật. Do đó có một bất hợp lý là các đồng phạm phải cùng chung một khung hình phạt trong khi trên thực tế vai trò, vị trí, mức độ tham gia phạm tội của họ khác nhau. Ngoài ra, thế nào là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trong một số trường hợp vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể.
Làm sao nâng chất?
Một số giải pháp đã được các kiểm sát viên đặt ra để nâng chất hoạt động kháng nghị là làm tốt công tác cán bộ, nâng chất, nâng lượng cán bộ, làm sao cho kiểm sát viên có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn với từng vụ án mà mình tham gia. Kiểm sát viên phải tự chủ động cập nhật kiến thức, học hỏi, đúc kết kinh nghiệm, đồng thời phải được bồi dưỡng, đào tạo thường xuyên và chuyên sâu.
Một yếu tố khác là phải làm tốt chức năng công tố tại tòa. Kiểm sát viên càng nắm kỹ hồ sơ, tình tiết khi thực hành quyền công tố thì sẽ càng dễ phát hiện ra sai sót ngay khi tòa xử án chứ không cần đợi đến khi nghiên cứu án văn. Mặt khác, hiện nay phán quyết của tòa là kết quả diễn biến phiên tòa. Do vậy, khả năng xử lý tình huống ở phiên tòa là quan trọng. Kiểm sát viên am hiểu và tích cực tranh luận thì ít bị qua mặt. Đối với những vụ phức tạp, lãnh đạo VKS cũng cần bố trí cán bộ có năng lực ngồi ghế công tố.
Riêng vấn đề nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật thì các cơ quan tố tụng cần phải thường xuyên phối hợp trao đổi, nghiên cứu để cùng xây dựng các văn bản hướng dẫn liên ngành. Dĩ nhiên là hệ thống pháp luật trên cơ sở đó cũng phải ngày càng hoàn thiện hơn để tránh những thiếu sót.