Một góc vịnh Subic năm 1990 - Ảnh: d.r.sanner
Chiếc USS Louisville không phải là một “bạch diện thư
sinh”, trái lại đã nổi tiếng trong chiến dịch Bão tố sa mạc năm 1991 tấn
công Iraq với vinh dự là tàu ngầm hải quân Mỹ đầu tiên phóng tên lửa
Tomahawk trong chiến tranh. Để tham gia chiến dịch này, chiếc USS
Louisville đã lặn một hơi 14.000 dặm, từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương
rồi vô biển Đỏ để đến trưa 19-1-1991 được lệnh khai hỏa mở màn cho
chiến dịch Bão tố sa mạc.
Ngang dọc tây Thái Bình Dương
Tàu ngầm được “sinh ra” với đặc tính “bẩm sinh” là
thoắt ẩn thoắt hiện, đến không biết, đi không hay… khác với các tàu nổi
như tàu khu trục, tàu sân bay, thậm chí tàu tuần duyên nhỏ bé, càng súng
ống tua tủa “xù lông nhím” càng diễu võ dương oai. Còn tàu ngầm thì
càng lẳng lặng càng tốt.
Cuối tháng 10 năm ngoái, chiếc USS Louisville về lại
“nhà” của nó là Trân Châu cảng sau một chuyến công tác dài sáu tháng.
Đến đầu tháng 2, nó được biên chế từ phân đội 3 tàu ngầm tấn công
(Comsubron 3) sang phân đội 7 tàu ngầm tấn công (Comsubron 7), sau khi
phân đội 3 gốc của nó bị giải thể và chia làm đôi, ba chiếc nhập vào
phân đội 1 (Comsubron 1), hai chiếc còn lại, trong đó có chiếc USS
Louisville, nhập vào phân đội 7.
Đến ngày 7-2 năm nay, nó được lệnh rời
Trân Châu cảng lên đường cho một chuyến công tác trong khu vực tây Thái
Bình Dương. Thành ra từ đầu tháng 2 tới giờ, nó cứ lặn hụp từ Trân
Châu cảng đến biển Đông, thỉnh thoảng trồi lên thở khí trời hoặc ghé bến
cho thủy thủ “xả hơi” đôi chút.
Đầu tháng 4, chính xác là hôm 3-4, nó
mò vô vịnh Sepangar của Malaysia ghé đó vài ngày. Rồi lại trở đầu ngược
đến đảo Guam, đến 11-5 thì cập bến Apra. Sau đó, quay đầu lại khu vực
Đông Nam Á và cuối tháng 6 lò mò vào cảng Subic của Philippines. Giở lịch đếm, hóa ra thủy thủ đoàn có quân số trên lý
thuyết là 129 người, cũng đã hành trình suốt bốn tháng nay, chưa về đến
“nhà” ở Trân Châu cảng.
Thứ hai 25-6, USS Louisville cập bến cảng Subic thật an
bình giữa lúc mà theo báo chí mô tả là “Trung Quốc và Philippines đang
đôi co với nhau”. Vịnh Subic mấy hôm đầu tuần rồi hoàn toàn yên tĩnh.
Cơn bão Dindo vẫn chưa áp sát Philippines, phải đến đêm thứ tư mới có
những cảnh báo đầu tiên trên Đài truyền hình GMA. Đêm đến sóng vỗ nhẹ
trên vịnh Subic, làm nhấp nhô mấy chiếc tàu hàng thả neo lơ lửng giữa
con vịnh được chắn gió bởi một cù lao như vịnh Cam Ranh.
Về phía bãi Baloy Long Beach, một dải đá ngầm nhỏ xíu
nổi lên không xa bờ bao nhiêu. Người Phi xây trên đó một nhà giàn bằng
bêtông, biến dải đá ngầm thành dải đá nổi, có chỗ trú chân, mưa gió. Âu
cũng là một cách giải quyết bài toán ngụ cư trên các dải đá ngầm lớn
nhỏ. Sáng ra thấy một chiếc ghe ba thân (trimaran) nhỏ cập bờ từ lúc nào
trong đêm.
Tối hôm trước, trong nhà hàng ven bãi biển của một
resort khuất trong một góc biển, từ đường lộ vào phải qua một “con hẻm”,
giông giống các resort ở Phú Quốc, hai cô ca sĩ Phi mới lớn hát hò
trong tiếng đàn đệm của một tay keyboards. Đàn hát nhạc Mỹ là “đặc sản” của các ca sĩ và ban nhạc
Phi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong cảnh thanh bình đó, mấy ai ngờ
rằng đang lù lù một tàu ngầm hạt nhân cách đó không xa.
Cảng tự do Subic
Từ khi hải quân Mỹ rút khỏi căn cứ Subic vào cuối năm
1992, người Phi đã biến toàn thể căn cứ khổng lồ suốt thế kỷ 20 này của
hải quân Mỹ thành một khu vực cảng tự do ăn nên làm ra. Đây là một thách
đố vô cùng to lớn đối với thị trưởng Richard Gordon cùng 8.000 cư dân
thành phố Olongapo bên cạnh. Thách đố cơ bản là làm sao gìn giữ các cơ
sở vật chất trị giá đến 8 tỉ USD do quân đội Mỹ để lại, đừng để bị “hôi
của”, tháo gỡ hủy hoại!
Làm gì để “kiếm cơm” cho một cảng ngày nào còn sống nhờ
cung cấp dịch vụ hậu cần các loại, kể cả dịch vụ R&R (xả xú páp)
cho lính Mỹ, không những sống nhờ mà còn sống dư dả khi mà trung bình
mỗi tháng có đến 98 tàu cập bến (năm 1964), sang năm 1967 lên đến 215
chiếc/tháng, bất cứ ngày nào cũng cùng lúc có đến 30 tàu đậu trong cảng?
Kỷ lục của cảng Subic là vào tháng 10-1968 với 47 tàu bình quân trong
cảng mỗi ngày!Thị trưởng Richard Gordon đã biến quân cảng đóng cửa
này thành một đặc khu kinh tế mở với những công ty trong hàng ngũ “blue
chip” hái ra tiền như Công ty Coastal Petroleum hoặc Tập đoàn vận chuyển
hàng hóa bằng đường hàng không Fed Ex… Fed Ex đã “bơm” vào đây 3 tỉ USD
tạo 70.000 chỗ làm mới trong vòng bốn năm đầu tiên, biến sân bay quân
sự cũ của cảng Subic thành tổng trạm trung chuyển hàng hóa toàn cõi châu
Á - Thái Bình Dương của Fed Ex trong gần 10 năm trời ròng rã!
Đặc khu kinh tế mới Subic thành công đến nỗi chỉ bốn
năm sau khi người Mỹ cuốn cờ ra đi đã có đủ thực lực kinh tế, tài chính
đăng cai hội nghị thượng đỉnh APEC lần 4 vào hôm 24-11-1996, đúng bốn
năm tính từ ngày chiến hạm USS Belleau Wood, chiến hạm cuối cùng của hải
quân Mỹ rời cảng này hôm 24-11-1992! Bí quyết thành công của Subic? Để làm chủ “di sản” cơ
sở vật chất hải quân Mỹ để lại, cần phải có một lực lượng nhân sự tương
ứng. ư
Điều đó không quá khó khi mà Philippines, do từng là thuộc địa Mỹ,
nên đã được trang bị một hệ thống giáo dục cả trung học và đại học theo
kiểu Mỹ, tự chủ đại học từ khi được thành lập, học sinh, sinh viên sử
dụng quen tiếng Anh…, được xem là tiên tiến nhất Đông Nam Á trong thập
niên 1960, 1970, 1980… trước khi bị Singapore rượt đuổi kịp và qua mặt.Người Phi đã tích lũy kinh nghiệm làm kinh tế hậu cần
trong những năm chiến tranh Việt Nam, với những con số “kỷ lục” như đón
tiếp 4.224.503 lượt khách Mỹ ghé nghỉ năm 1967, 15.000 công nhân Phi làm
việc trong các công xưởng hải quân Mỹ đã quen với tác phong công nghiệp
và làm việc ở trình độ chuyên sâu (sửa chữa, đại tu tàu chiến hạm đội
7).
Tháng 8-1967, tàu sân bay USS Forrestal bị thảm họa
cháy nổ cả trăm người chết đã được kéo về đây sửa chữa. Không chỉ sửa
chữa tàu chiến, Subic còn là căn cứ sửa chữa, bảo trì cho toàn thể 400
máy bay các loại của các tàu sân bay thuộc hạm đội 7. Để đảm đương công
việc này, bình quân mỗi ngày ở đây phải thay thế hai động cơ phản lực
cho máy bay “khách hàng”, một công việc mà khó có một xưởng sửa chữa máy
bay nào khác trên thế giới có được!
Đó là lý do mà hạm đội 7 nay quyết liệt tìm cách quay
trở lại Subic trong kế hoạch “tái cân bằng lực lượng” của Bộ trưởng quốc
phòng Leon Panetta. Chiếc tàu ngầm này thuộc lớp tàu ngầm hạt nhân Los
Angeles, tổng cộng gồm 62 chiếc, được Tập đoàn General Dynamics
Corporation đóng trong thời gian từ năm 1972-1996. Lớp Los Angeles là
lớp tàu ngầm hạt nhân ra đời thứ nhì, sau lớp Sturgeon.
Hai mươi chiếc
“cổ lỗ sĩ” nhất đã được cho “giải ngũ”, còn lại 42 chiếc đang hoạt động.
Chiếc USS Louisville là chiếc thứ 37 thuộc lớp này,
được hạ thủy tháng 12-1985, nhập biên chế tháng 11 năm sau. Con tàu dài
109,73m này được trang bị một lò phản ứng hạt nhân GE PWR S6G , hai
tuôcbin 35.000 mã lực, một máy dự phòng 325 mã lực, có tốc độ khá khiêm
tốn khi nổi, chỉ 15 hải lý/giờ, song một khi lặn xuống nước có thể lặn
sâu đến 200m, sẽ tăng tốc hơn gấp đôi, có thể lên đến 32 hải lý/ giờ.
Bởi thế nó mới được biên chế là tàu ngầm tấn công nhanh.
Theo DANH ĐỨC (TTO)
-----------------------------------------------------
Thật ra Mỹ và Philippines đều phải cân nhắc
đắn đo khi cho tàu ngầm hạt nhân vào Subic. Đắn đo vì dư luận trong
nước cũng có, nhưng quan trọng hơn là sự săm soi của “đệ tam nhân”.
Kỳ tới: Ngó trước ngó sau