Người sử dụng dịch vụ ATM cần được sự bảo vệ pháp lý. Trong ảnh: rút tiền từ
thẻ ATM ở Khu chế xuất Tân Thuận, TP.HCM Ảnh: THANH
ĐẠM
Số tiền mà mỗi chủ thẻ bị mất có thể không
lớn; nhưng trong điều kiện số người, số lần giao dịch có thể lên tới hàng triệu
mỗi ngày, không khó để nhận ra rằng những ngân hàng tự tiện thu phí đã chiếm
đoạt của khách hàng những khoản tiền, tính tổng cộng trung bình một ngày
thôi, đã lên tới hàng tỉ đồng.Không ai đòi hỏi ngân hàng thương mại
cung ứng miễn phí một dịch vụ, tiện ích của họ.
Điều
gây bức xúc là ngân hàng tự đặt ra phí và ấn định mức thu một cách
đơn phương, chứ không phải theo sự thỏa thuận trước với
khách hàng. Được yêu cầu lý giải về cơ sở pháp lý, ngân hàng dẫn ra pháp
lệnh phí và lệ phí cùng với các nghị định, thông tư
liên quan. Rõ ràng các ông chủ ngân
hàng đang ứng xử trong tư thế người được Nhà nước ủy thác cung ứng dịch vụ công,
thậm chí còn “oai” hơn, bởi việc thu phí được thực hiện mà không cần thông báo
trước.
Trong khi đó, chẳng ở một xứ sở
văn minh nào mà dịch vụ ngân hàng thương mại lại được xếp cùng loại với các
dịch vụ công, như hộ tịch, công chứng, đăng ký bất động sản, đăng ký kinh
doanh...
Đặc biệt, chủ thẻ ATM đến một ngân
hàng để mở tài khoản giao dịch không phải theo lệnh của Nhà nước, mà trong khuôn
khổ
một quan hệ hợp đồng dân sự. Theo
đúng nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, mọi điều khoản của hợp đồng, bao gồm các
điều khoản về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phải là kết quả của sự thương lượng
sòng phẳng và minh bạch giữa hai bên.
Cũng có thể trong quá trình vận hành mạng lưới cung
ứng dịch vụ ATM, ngân hàng có nhu cầu nâng cấp hạ tầng kỹ thuật để cải thiện
chất lượng phục vụ và do công việc đó đòi hỏi chi phí, ngân hàng muốn yêu cầu
người sử dụng dịch vụ phải trả một khoản phí bổ sung.
Tuy nhiên,
trong điều kiện giữa ngân hàng và chủ thẻ ATM đang bị ràng buộc
bởi một
hợp đồng cung ứng dịch vụ đã ký từ trước, việc nâng cấp hệ thống và thu
phí bổ sung phải là kết quả của sự thỏa thuận trong khuôn khổ sửa đổi hợp
đồng.Về mặt lý thuyết, nếu ngân hàng đã lỡ nâng cấp hệ thống, nhưng
khách hàng lại không chịu sửa đổi nội dung hợp đồng đang có hiệu lực thì ngân
hàng phải để khách hàng được hưởng miễn phí tiện ích mới cho đến khi hết hạn hợp
đồng giữa hai bên.Không biết đến khi nào người sử dụng dịch vụ ngân
hàng ở VN mới được hưởng đầy đủ sự bảo vệ pháp lý dành cho kẻ yếu.
Dẫu sao,
trước mắt Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền phải có
biện pháp xử lý nghiêm và kiên quyết đối với các tổ chức và cá nhân
liên quan đến việc lén thu phí
giao dịch qua máy ATM, theo cách xử lý một vụ phạm pháp. Nếu không, hàng
loạt chủ trương đúng đắn, như trả
lương cho người lao động qua ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt để giảm
nguy cơ lạm phát... có thể sẽ thất bại do sự quay lưng của xã hội đối với cái
gọi là dịch vụ ngân hàng tự động.
|
Đòi hỏi ngân hàng ứng xử “quân tử” Ở các nước tiên tiến, luật pháp còn có thể đòi hỏi
các ngân hàng phải ứng xử một cách “quân tử”, cả trong thương
thảo và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ, tiện ích; bởi trong quan
hệ so sánh về sức mạnh kinh tế, ngân hàng luôn được cho là bên mạnh
hơn và do đó có điều kiện o ép khách hàng vào một giao kèo không bình đẳng.
Ngân hàng có thể bị xử phạt nặng trong trường hợp tìm cách móc
túi khách hàng thông qua việc cung ứng dịch vụ. Một ví dụ điển hình cho kiểu móc túi
này là sau khi đạt được thỏa thuận về thu phí giao dịch ngoại mạng, ngân hàng
đặt máy ATM
một cách không hợp lý, không thuận tiện, thường xuyên để máy trong tình
trạng không có tiền, để rốt cuộc người sử dụng thẻ phải tìm đến máy của ngân
hàng khác giao dịch và tất nhiên phải trả
phí... |
Theo PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN (TTO)