“Ai xui ta nhớ Hàm Rồng
Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn
khuây
Từ ta trở lại Sơn Tây
Con đường Nam Bắc ít ngày vãng lai
Sơn cầu
còn đỏ chưa phai?
Non xanh còn đối? Sông dài còn sâu?
Còn thuyền đánh cá
buông câu?
Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?
...
Khung cầu còn cứ như
tranh
Hỏa xa cứ chạy bộ hành cứ đi
...
Sơn
Tinh, Hà Bá hay cùng
Giữ nguyên phong cảnh Hàm Rồng đợi ta
Có ngày xe lửa
đi qua
Trong xe lại có Tản Đà đứng trông
...”.
Đào đường hầm ở phía nam đèo Cả - Ảnh: tư liệu gia đình Thái
Nguyễn Bạch Liên
Tuy nhiên, thời điểm Tản Đà viết bài thơ, ông vẫn chưa thể đi
trọn được con đường xe lửa xuyên Việt mà sau này đã in sâu hồn bóng trong rất
nhiều tác phẩm, giai thoại về nhà thơ tài hoa.Và hành trình Bắc Nam còn phải đợi
thêm bốn năm nữa với rất nhiều trắc trở, mà có lúc tưởng đã vĩnh viễn dở
dang...1.
729 km và 36 nămNăm 1900, toàn quyền Paul Doumer đã đặt những viên đá đầu tiên
khởi công con đường sắt Hà Nội - Sài Gòn trong lúc công trình xây dựng cầu Long
Biên còn dở dang. Frédéric Hulot kể rằng công việc ban đầu thuận lợi. Các kỹ sư cho làm đường sắt từ Hà Nội về Ninh Bình trên nền
những con bờ đã được nông dân đắp cao hơn mặt ruộng. Việc gia cố nền đường này
để thanh ray khổ 1.000mm rất đơn giản.
Có một chút bận tâm đó là phải xây dựng
cây cầu Phủ Lý dài 205m gồm hai nhịp đầu cố định và
một nhịp giữa di động cho tàu bè qua sông. Sau đó, trước một thành phố Nam Định sầm uất đã phát
triển công nghiệp dệt, các kỹ sư đã quyết định uốn vòng đường sắt chạy qua
thành
phố cổ xưa này rồi trở lại bám dọc quốc lộ như cũ.
Ngày 9-1-1903, một lễ
chào đón nhỏ đã được tổ chức ở Ninh Bình để chào đón đường sắt được lắp đến đây
ở km 114.Bỏ lại đồng bằng sông Hồng phía sau, đúng một năm nữa, đường sắt
tiến đến Hàm Rồng, Thanh Hóa vào tháng 1-1904. Tuy nhiên, đây cũng là năm vùng
này đón mùa mưa khắc nghiệt với liên tiếp hai trận bão lụt tháng 9 và tháng 10.
Công trình bị gián đoạn đến đầu tháng giêng năm 1905
mới tiến đến thành phố Thanh Hóa ở km 175. Nhưng
từ đây tiến độ xây dựng nhanh hơn. Người dân Vinh đã lần đầu tiên được nhìn thấy
đường sắt vào tháng 3-1905 tại km 321.Sau Hà Nội một năm, công trình đường sắt đầu Sài Gòn ngược ra Hà
Nội được khởi công vào năm 1901. Frédéric Hulot kể rằng có những thuận lợi ban
đầu nhờ có hệ thống cảng tiếp liệu tốt và đã có kinh nghiệm trên công trình
đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho.
Tuy nhiên, khó khăn đã xuất hiện. “Công trình xây dựng không theo kịp kế hoạch. Vấn đề tuyển
mộ tế nhị hơn họ dự đoán. Trước tiên, người ta từ chối tất cả sự trưng dụng, dân
chúng bỏ trốn hàng loạt khỏi làng để ở các vùng lân cận. Ngoài ra, sắc lệnh của tổng
thống ngày 3-5-1881 cũng đã hủy bỏ chế độ lao dịch ở Đông Dương. Người tình
nguyện thì ít, người ta phải động viên người từ các bộ lạc Tây nguyên” -
Frédéric kể tiếp dịch bệnh thường xuyên xuất hiện, một người chết đã làm hàng
loạt người khác bỏ trốn.
Mãi đến tháng giêng năm 1910, công trình đường sắt từ Sài Gòn mới
ra tới Phan Thiết và đoàn tàu đầu tiên chạy được đến Nha Trang vào năm 1913.Trên đoạn miền Trung, đường sắt xuyên Việt được
khởi hành
từ Đà Nẵng ra hướng Huế vào năm 1902 và đối mặt ngay với thách thức khi
vượt qua dãy núi Hải Vân. Nhiều hầm xuyên qua lòng núi phải đào và ngay hầm đầu
tiên đã bị trễ nải vì mũi khoan đặt mua ở Mỹ về không kịp.
Trải bao khó khăn,
đến ngày 15-2-1906 thì đường sắt cũng đặt
đến kinh đô Huế. Xứ sở của các nhà vua này chính là một
trong những lý do quan trọng đã khiến Paul Doumer chọn lựa tuyến đường sắt dọc
bờ biển ngang qua Huế thay vì xuyên qua ba nước Đông Dương...
Đặt đường ray cuối cùng nối liền Nam - Bắc ở ga Hảo Sơn (Phú Yên) - Ảnh: tư
liệu gia đình Thái Nguyễn Bạch Liên
Sự trắc trở và tấm bia ở Hảo SơnTuy nhiên, các công trình đường sắt Hà Nội - Sài Gòn đã dở
dang suốt nhiều năm của thập niên 1910 với nhiều lý do.
Trong đó có lý do quan trọng “cha đỡ đầu”dự án là toàn quyền Paul Doumer sớm về
Pháp và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm đình trệ mọi công trình.
Đặc biệt,
thời kỳ toàn quyền Albert Sarraut đã chần chừ, xét lại hệ thống đường sắt xuyên
Việt của
Paul Doumer. Viên toàn quyền mới thích ý tưởng làm đường sắt sâu trong nội địa
xuyên ba nước Đông Dương để có tác động khu vực rộng hơn, chạy qua vùng nhiều
tài nguyên, tránh được thiệt hại do bão lũ và không phải cạnh tranh với tuyến
quốc lộ đang phát triển.
Thậm chí Albert Sarraut đã tính kế hoạch chuyển hướng tuyến đường
sắt đang làm ở Tân Ấp, Quảng Bình rẽ sang Thakhet, Lào và cặp theo bờ sông
Mekong đến Kratié, Campuchia rồi rẽ xuống Sài Gòn rút ngắn được 350km so với
đường dọc bờ biển.Năm 1923, con đường sắt dở dang mới được
tiếp tục làm từ Vinh với phía trước khó khăn khi phải vượt qua đèo Ngang, Hà
Tĩnh.
Sau đó, ở đầu Đông Hà, Quảng Trị, đội xây dựng khác cũng làm tiến ra phía
Bắc. Và đến tháng 10-1927, đoạn đường Vinh - Đông Hà
dài
299km đã được nối thông.Ở miền Trung, đoạn đường sắt cuối cùng tuyến xuyên Việt từ
Đà Nẵng vào Nha Trang khởi công từ năm 1931. Các nhịp cầu thép và đường ray khá
tốt do nước Đức bồi thường chiến phí Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tuy nhiên,
một trận bão lớn đổ vào miền Trung đầu hè năm 1932 đã làm đình trệ công trình.
Đặc
biệt, ở đoạn Mỹ Sơn, phu làm đường vật vã với dãy núi đá hoa cương rắn chắc. Rồi
một loạt đường hầm xuyên qua đèo Cả cũng vắt kiệt sức người làm đường. Đến Tuy
Hòa, cầu Đà Rằng dài 1.062m với 21 nhịp lại như thử thách cuối cùng
phải vượt qua ...Và đến ngày 2-10-1936, mét ray cuối cùng nối
tuyến đường sắt Sài Gòn - Hà Nội dài 1.729km được kết thúc tại Hảo Sơn, Phú
Yên ở km 1.221 từ Hà Nội vào.
Một tấm bia
ghi công Paul Doumer đã được dựng lên: “Tại đây đường xe lửa xuyên Đông Dương do
Paul Doumer khởi xướng nhằm tạo cho Đông Dương sự thống nhất đã hoàn thành
ngày 2-10-1936 bằng việc nối mối đường
ray từ Trung Quốc vào và từ Sài Gòn ra”.
Nhưng bên vòng hoa vinh quang của Paul Doumer, không biết có ai
nhắc nhớ đến mồ hôi, nước mắt lẫn máu của hàng triệu lượt phu Việt đã đổ
xuống con đường dài nhất đất nước này...
Theo QUỐC VIỆT (TTO)