Có nhiều phản
ứng, cả trái chiều và thuận chiều. Song, có một điều ai cũng thừa nhận: đúng là
từ nhiều năm, người ta đã quen thấy việc sử dụng ngày, giờ làm việc ở cơ quan
nhà nước để học văn hoá, chuyên môn, bồi dưỡng lý luận chính trị, sinh hoạt đoàn
thể… Chưa nói đến chuyện tranh thủ thời gian công tác để làm việc riêng tư đã
thành chuyện thường ngày!
Chẳng có gì khác biệt giữa khu vực công và
khu vực tư: người lao động trong khu vực công được ông chủ là Nhà nước trả lương
để làm việc và phải sử dụng toàn bộ thời gian lao động cho công việc được giao
(ảnh chỉ có tính chất minh hoạ). Ảnh: Thanh Hảo Tất nhiên, một khi công chức, viên chức được trả lương để làm
việc công nhưng cuối cùng lại đi học, thì tiền bạc của Nhà nước bị tiêu xài
không đúng mục đích và không hiệu quả. Trong chừng mực đó, có thể coi lệnh cấm
như là một trong những nỗ lực chống tệ nạn lãng phí công quỹ, thậm chí tệ nạn
thâm lạm của công.Ở các chỗ làm của tư nhân, nhân viên phải làm các công việc được
chủ phân công trong giờ làm việc, không được làm gì khác.
Ngay cả khi họ không
có gì để làm trong khoảng thời gian đó, thì cũng không thể rời bỏ vị trí công
tác để làm việc khác, nếu chủ không cho phép. Người làm công trong khu vực tư
muốn đi học phải tự thu xếp các khoảng thời gian ngoài giờ làm việc, vào buổi
tối hoặc cuối tuần.
Điều này rất tự nhiên, không ai thắc mắc cả.Vì thế, hiện tượng nhân viên công sở sử dụng giờ hành chính để đi
học chỉ là vấn nạn riêng của khu vực công. Đúng hơn nữa, đó là vấn nạn tương đối
đặc thù, xuất hiện ở Việt Nam nhưng không thấy ở các nước tiên tiến. Nó có nguồn
gốc sâu xa, gắn với mô hình xã hội hành chính hoá tồn tại trong nhiều năm.Có một thời, toàn xã hội vận hành như một guồng máy hành chính
khổng lồ, do mọi thiết chế, từ doanh nghiệp, trường học, bệnh viện đến nhà hát,
sân vận động, công viên, tổ chức hội, đoàn… đều nằm trong tay Nhà nước.
Trong
điều kiện đó thì đi làm việc, đi học, đi họp, hay sinh hoạt tập thể, thậm chí
hội thao, văn nghệ, đều là những hoạt động được cho là vì cái chung và được công
chức thực hiện như là một phần của công vụ. Trong chiếc nôi bao cấp mênh mông,
người ta không thấy được đâu là bến bờ giới hạn đối với hành vi ứng xử trong
giao tiếp xã hội mà vượt qua đó, sẽ bị coi là lạm dụng thời gian, tiền bạc và cả
sự dễ dãi của cơ quan chủ quản, để làm những việc mang tính chất phục vụ cho cá
nhân.
Việc xoá bỏ bao cấp đồng thời có tác dụng trao cho từng cơ quan
nhà nước, từng chủ thể sử dụng ngân sách công trách nhiệm bảo đảm tính hiệu quả
của việc chi tiêu bằng công quỹ. Trên nguyên tắc, mỗi cơ quan công được ngân
sách đầu tư để thực hiện tốt chức năng chuyên môn được phân giao cho mình trong
khuôn khổ tổ chức hệ thống cơ quan nhà nước, thể hiện thành sự vận hành suôn sẻ
của từng vị trí và nói chung của cả guồng máy.
Một khi đã thiết lập được chế độ trách nhiệm như thế, suy cho
cùng, về phương diện sử dụng thời gian lao động, chẳng có gì khác biệt giữa khu
vực công và khu vực tư: người lao động trong khu vực công được ông chủ là Nhà
nước trả lương để làm việc và phải sử dụng toàn bộ thời gian lao động cho công
việc được giao.
Thực ra, nếu nhân viên thuộc quyền đi học mà không có sự chấp
thuận của lãnh đạo cơ quan, thì đã có pháp luật lao động, kỷ luật công tác với
đầy đủ biện pháp chế tài, từ khiển trách cho đến buộc thôi việc. Họ không cần
đến lệnh cấm đó mới chịu đi vào khuôn khổ.Rốt cuộc, lệnh cấm chỉ ràng buộc các thủ trưởng đơn vị, không ăn
nhập gì đến các cấp thuộc quyền. Đáng lý ra phải nói cho rõ: ai lãnh đạo cơ quan
mà cho phép nhân viên đi học trong giờ hành chính thì phải chịu trách nhiệm!
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện (SGTT.VN)