06/12/2011 - 00:00

“Chúng tôi sẽ trở về!”
Đấu khẩu với viên thuyền trưởng người Pháp trên chuyến tàu tập kết ra Bắc, chàng thanh niên quả quyết: “Chúng tôi sẽ trở về!”.

Chàng thanh niên đó chính là Đại tá Tư Cang, Cụm trưởng tình báo H.63, người trực tiếp phụ trách điệp viên Phạm Xuân Ẩn sau này.

Cho đến giờ, ở cái tuổi ngoài 80, ông Tư Cang vẫn còn nhớ như in cuộc đấu khẩu năm nào. Chính lý lẽ của ông, mà cũng là của cả dân tộc này, đã khiến viên thuyền trưởng người Pháp phải cúi đầu im lặng…

“Gậy ông đập lưng ông”

Tháng 8-1954, ông vô chiến khu tập trung tại huyện Xuyên Mộc, ở đó 80 ngày rồi cùng đồng đội tập kết ra Bắc. Trên chuyến tàu từ Vũng Tàu ra Bắc, ông gặp thuyền trưởng người Pháp. Lúc đó, theo thỏa thuận của Hiệp định Giơ-ne-vơ, Pháp phải lo vận chuyển cho chúng ta.

Ở đó, giữa ông và vị thuyền trưởng kia đã có cuộc trò chuyện khá thú vị. Khi kể lại cho chúng tôi nghe, đến những đoạn trích dẫn, ông Tư Cang đều nói bằng tiếng Pháp nhưng chúng tôi không ghi lại được.

Ông nói: “Giả (tiếng miền Nam, như va, thằng chả, anh ta, anh ấy - NV) biết tôi biết nói tiếng Pháp liền hỏi: “Các ông được người Pháp cho ăn học, sao các ông lại cầm súng đánh lại người Pháp?”. Lúc đó tôi nói: “Các ông là người Pháp mà không nhớ lịch sử nước Pháp. Khi nước Pháp bị nước Anh thống trị, Jeanne d'Arc (người anh hùng dân tộc của Pháp - NV) đã đứng lên chống lại nước Anh. Jeanne d'Arc cũng giống như chúng tôi thôi, sao các ông tôn thờ cô ấy mà không đồng tình với việc chúng tôi chống người Pháp? Trước khi ra đi chống lại quân Anh, Jeanne d'Arc có nói mấy câu: “Không biết sau này ta còn có thể quay lại quê hương để đan mảnh len này không…”. Jeanne d'Arc ra đi nhưng không biết ngày về lại quê hương. Còn chúng tôi, chúng tôi tin chúng tôi sẽ về. Nếu chúng tôi không về lại trong hòa bình như hiệp định thì chúng tôi sẽ trở về bằng súng đạn”.

Thấy vị thuyền trưởng im lặng, ông nói thêm: “Trong quốc ca của nước Pháp các ông có câu Hãy để dòng máu nhơ bẩn (của kẻ thù) tưới đẫm luống cày của chúng ta. Quốc ca của nước tôi cũng có câu Đường vinh quang xây xác quân thù… Đó là tư tưởng lớn gặp nhau”.

Đại tá tình báo Tư Cang giữa đời thường. Ảnh: NGUYỄN THỊNH

“Bộ đôi” Tư Cang - Xuân Ẩn

Ra Bắc, ông nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau của Đại đội thông tin. Năm 1958, ông được phong thượng úy của Sư đoàn 338, đóng ở Xuân Mai, Hà Nội. Sau sáu tháng theo học Lục quân khóa bổ túc chính trị viên đại đội, ông nhận lệnh trở về Nam hoạt động.

Một ngày tháng 5-1961, lúc đã chuẩn bị tư trang để vào Nam thì chiều đó xe của Tổng cục Tình báo rước ông về để cho đi học tình báo. Khóa học kéo dài sáu tháng, do một cán bộ tình báo của ta dạy từ những tài liệu tổng hợp về kỹ thuật tình báo của các nước có ngành tình báo tiên tiến bấy giờ. Ông còn nhớ người thầy đó sau này cũng vào Nam hoạt động, sau đó bị bắt và hy sinh, được phong đại tá.

Tháng 12-1961, Đại úy Tư Cang làm trưởng đoàn dẫn 13 người đều mang cấp hàm thiếu úy theo đường Trường Sơn trở vào Nam để tổ chức mạng lưới tình báo ngay trong lòng địch. Riêng ông nhận chỉ thị móc nối với điệp viên Phạm Xuân Ẩn và trực tiếp chỉ huy cụm tình báo chiến lược mang mật hiệu H.63.

Đại tá Tư Cang nói về lý do mình được cử vào Nam: “Lúc đó ông Mười Hương (người chỉ huy trực tiếp và chỉ thị ông Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ học báo chí) bị bắt. Biết tin đó, ông Phạm Xuân Ẩn vẫn về nước hoạt động. Nhờ cô Tám Thảo, cũng là một điệp viên, móc nối đưa vào chiến khu gặp các ông Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt, Cao Đăng Chiếm để tìm cách hoạt động. Các ông đó nhìn thấy ông Phạm Xuân Ẩn là một người có tài làm tình báo nên điều ông Nguyễn Xuân Mạnh làm cụm trưởng, phụ trách ông Ẩn. Nhưng ông Mạnh bị bệnh, phải ra Bắc điều trị. Vì thế tôi vào thay ông Mạnh”.

Để đảm bảo bí mật và an toàn, từ năm 1962 đến 1965, thông qua cô Tám Thảo, ông chỉ liên lạc với ông Ẩn bằng thư từ. Năm 1965, Mỹ đổ quân vào chiến trường miền Nam. Cấp trên yêu cầu các cụm trưởng phải sát cánh cùng điệp viên chiến đấu. Ông Tư Cang quyết định vào nội thành Sài Gòn đi sát cùng ông Phạm Xuân Ẩn. Họ thường chở nhau bằng xe hơi của ông Ẩn, chiếc Renault màu xanh do Pháp sản xuất hoặc đi xe Peugeot 204 màu đỏ của ông Tư Cang. Khi thì ông Ẩn lái, khi ông Tư Cang lái. Nhìn họ như một đôi bạn chí thân. Theo ông Tư Cang, hiện hai chiếc xe được trưng bày tại Bảo tàng Tình báo ở 332 Lê Trọng Tấn, Hà Nội.

Vào Sài Gòn, ông ở trọ nhiều chỗ, phần lớn là ở nhà cô Tám Thảo ở 136B Gia Long, nay là đường Lý Tự Trọng, quận 1. Ông lấy vỏ bọc là một kế toán viên trong hãng kế toán tư của Mỹ có tên viết tắt là Autorex, đóng trụ sở trên đường Nguyễn Huệ (quận 1) bây giờ. Sáng sáng, ông chở cô Tám Thảo đi làm (lúc ấy điệp viên Tám Thảo làm thư ký cho một thiếu tá Hải quân Mỹ).

Huân chương chiến công thầm lặng

Ông Tư Cang kể lại ấn tượng lần đầu gặp mặt ông Ẩn như sau: “Lúc gặp tao, giả nhìn tao nói: “Cha nội này ở chiến khu ra mà coi ngon dữ ta, coi bộ còn ngon hơn tui nữa!”. Vì lúc đó tao trắng trẻo, cao ráo, nhìn như thầy ký. Ông Ẩn đưa tao đi mua một đôi giày Bata ở đường Lê Thánh Tôn. Nhìn một lúc, giả nói: “Nhưng mà áo ông mặc mới quá, tụi nó dễ nghi. Ông đổi cái áo nào cũ hơn chút””.

Rồi cả hai tới nhà ông Ẩn, lúc đó nằm trên đường Võ Tánh. Đó là một căn nhà nhỏ. Lương phóng viên báo Times của ông Ẩn là 40.000 đồng tiền Việt Nam Cộng hòa, trong khi vàng chỉ có 3.000 đồng/lượng. Số lương đó đủ mua nhà lớn nhưng ông Ẩn không mua. Còn lương kế toán của ông Tư Cang lúc đó là 13.000 đồng. Trong cụm H.63, chỉ mình ông Tư Cang là biết nhà ông Ẩn. Nhưng ông Ẩn không biết ông Tư Cang ở đâu. Ban ngày ông đi làm bình thường. Đến tối, chọn chỗ nào ông thấy êm êm mới tới ngủ để tránh bị cảnh sát lục soát.

Nói về ông Phạm Xuân Ẩn, ông Tư Cang trầm ngâm: “Ông Ẩn là người có tài nói dóc, giỏi trà trộn và trung thành. Với vai trò là phóng viên báo Times, ổng tiếp xúc được với nhiều nguồn tin quan trọng mà đám sĩ quan chế độ cũ và Mỹ không nghi ngờ”. Một lần đi cùng ông Phạm Xuân Ẩn trên đường Lê Duẩn, ông nói với ông Ẩn: “Những tin tức anh gửi cấp trên đánh giá rất cao. Anh đã được tặng huân chương hạng 1”. Ông Ẩn cười: “Đời tụi mình chưa hạ màn, mà cũng không biết khi nào thì hạ màn, không biết đến lúc nào tôi mới được đeo huân chương đó””.

Sau này, khi hòa bình, có lần ông Ẩn nói với ông Tư Cang: “Anh em mình không bị lộ là nhờ may mắn hơn anh em khác chứ không phải mình tài giỏi hơn gì đâu”. Nhận xét đó đã bộc lộ tính cách con người ông Phạm Xuân Ẩn: Khiêm nhường và tự biết mình, hiểu biết kẻ thù.

Năm 1968, sợ ông Ẩn bị lộ, ông Tư Cang được lệnh rút về cứ. Đại tá Lê Minh Khách thay ông phụ trách cụm này từ năm 1969 đến 1970 rồi đến Đại tá Nguyễn Văn Minh phụ trách cụm cho tới giải phóng.

Vài nét về Đại tá Tư Cang

Đại tá Tư Cang tên thật là Nguyễn Văn Tàu, quê xã Long Phước, thị xã Bà Rịa (Bà Rịa-Vũng Tàu). Nhờ học giỏi, ông thi đậu hạng 7/600 người và đoạt học bổng vào học Trường Petrus Ký (nay là Trường Lê Hồng Phong, TP.HCM). Năm 1940-1944, chiến tranh giữa Nhật và phe Đồng minh nổ ra ở Sài Gòn, trường được lệnh chuyển về Mỹ Tho. Thay vì theo học, cậu bé Tàu trở về quê tham gia vào đội Thanh niên Tiền Phong cướp chính quyền tại thị xã Bà Rịa năm 1945. Rồi cậu tham gia vào lực lượng quân báo tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn với cấp bậc chỉ huy phó.

Sau khi ra Bắc học tình báo rồi trở vào Nam làm cụm trưởng H.63, năm 1969, ông rút về cứ làm phó chính ủy Phòng Tình báo miền. Sau đó, ông ra Hà Nội học bổ túc về chính ủy sư đoàn ở Học viện Chính trị. Chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, ông trở vào tham gia chiến đấu với vai trò chính ủy Lữ đoàn đặc công miền. Đêm 30-4-1975, ông mới chính thức gặp lại vợ con sau hơn 20 năm xa cách.

Sau giải phóng, ông Tư Cang làm bí thư kiêm chính ủy Sư đoàn đặc công 316 đóng ở Bình Long (Bình Phước) rồi tham gia đánh Pôn-pốt. Bị thương nhẹ, ông được điều về làm hiệu trưởng trường văn hóa quân khu ở Vũng Tàu. Năm 1980, ông nghỉ hưu. Năm 2006, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

NGUYỄN THỊNH

Chia sẻ lên LinkHay.com Email In [+]Cỡ chữ[-]