01/04/2010 - 00:05

Mại dâm - vẫn cấm hay thừa nhận- Bài cuối: Việt Nam nên theo cách của Thái Lan?
(PL)- (*)Luật pháp Thái Lan không truy tố, bắt bớ người bán dâm, chủ chứa, đồng thời thực thi nhiều chính sách quản lý mại dâm.

Việc lựa chọn cách kiểm soát mại dâm thích hợp với Việt Nam cần dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên thế giới để xác định những thuận lợi, bất lợi của từng mô hình và đánh giá liệu nó có phù hợp với điều kiện hiện tại.

Trên thế giới, khái niệm “mại dâm” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các hoạt động liên quan mại dâm như chứa chấp, môi giới, bảo kê, bán dâm, mua dâm, khiêu dâm, kích dục, quảng cáo… Theo kết quả nghiên cứu tại 72 nước trên thế giới, hiện nay có bốn mô hình luật pháp mại dâm phổ biến.

Cấm có, thả cũng có

Tội phạm hóa mại dâm (Prohibition). Theo mô hình này, mại dâm là bất hợp pháp và người bán dâm phải bị trừng phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, luật pháp hà khắc thường đẩy mại dâm vào hoạt động trá hình, làm nguy hại cho xã hội. Người bán dâm dễ bị lạm dụng, dễ gặp khó khăn trong việc thuyết phục khách dùng bao cao su, tiếp cận dịch vụ sức khỏe, HIV và tìm kiếm việc làm, dẫn đến gia tăng sự lây nhiễm HIV trong cộng đồng. Mặt khác, chính phủ khó có thể quản lý được sự câu kết giữa thị trường tình dục, thị trường ma túy và tội phạm có tổ chức. Chính vì vậy, nhiều nước châu Âu theo mô hình này từ thế kỷ 19 nay đã chuyển sang các mô hình luật pháp khác mềm mỏng hơn.

Hợp pháp hóa mại dâm (Legalization). Chính phủ quản lý mại dâm chủ yếu dưới các hình thức: khoanh vùng, đăng ký, cấp giấy chứng nhận hành nghề và khám sức khỏe bắt buộc đối với người bán dâm. Những nước điển hình theo mô hình này là Hà Lan, Đức, Singapore và một số bang của Úc. Cơ sở lý luận của mô hình này là dựa trên quyền con người, đồng thời rút kinh nghiệm của các nước đã thất bại theo mô hình cũ (Prohibition). Lợi thế của mô hình này là giữ gìn được trật tự xã hội, làm giảm bóc lột tình dục, buôn bán phụ nữ, mại dâm và kiểm soát được bệnh dịch tại nơi khoanh vùng. Tuy nhiên, mô hình này chưa giảm được mại dâm trá hình và đòi hỏi phải có sự phối hợp quản lý chặt chẽ giữa các cơ quan thực thi pháp luật. Việc khám sức khỏe bắt buộc đối với người bán dâm cũng dẫn đến sự chủ quan của người mua dâm cho rằng nguy cơ nhiễm HIV là không đáng kể và do vậy làm gia tăng tình dục không an toàn.

Nếu theo mô hình của Thái Lan, những người bán dâm sẽ không bị tập trung như thế này. Trong ảnh: Học viên Trung tâm Phú Nghĩa làm nghề sơ chế hạt điều. Ảnh: THANH MẬN

Ba là phi tội phạm hóa mại dâm (Decriminalization). Đây là sự gỡ bỏ các tội phạm mại dâm ra khỏi luật hình sự, coi mại dâm là một nghề và thường không chịu sự quản lý gắt gao của nhà nước. Chính sách này giúp giảm phân biệt đối xử với người bán dâm, tăng cường trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng, giảm mại dâm trá hình. Tuy nhiên, điều này cũng dễ nảy sinh chồng chéo về luật pháp. Đây là mô hình hiện được coi là tiên tiến, được nhiều tổ chức cộng đồng ủng hộ.

Mô hình thứ tư là không truy tố, còn gọi là thực thi có chọn lọc (Non-prosecution). Trong hệ thống này, các chế tài về mại dâm không được nêu trong luật nhưng việc quản lý mại dâm được thực thi thông qua các chính sách dưới luật hoặc “hướng dẫn quốc gia”. Theo mô hình này, luật mại dâm và các chính sách khác không chủ trương truy tố hay bắt bớ người bán dâm hoặc chủ chứa. Nếu có sự phối hợp tốt giữa chính phủ và các tổ chức cộng đồng, chính sách này sẽ giúp kìm hãm đáng kể tỉ lệ lây nhiễm HIV, giảm tội phạm và bạo lực. Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi trách nhiệm cao của ngành công an và sự linh hoạt trong việc thực thi chính sách theo bối cảnh vùng, miền. Thái Lan thực hiện mô hình này khá thành công.

Việt Nam nên theo mô hình nào?

Theo sự phân tích bốn mô hình luật ở trên, chúng ta có thể kết luận rằng Việt Nam đang áp dụng mô hình luật đầu tiên (tội phạm hóa). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cải cách luật pháp, ma túy gia tăng và dịch HIV đang bùng nổ, Việt Nam không thể tiếp tục duy trì mô hình này.

Việt Nam cũng khó có thể đi theo hai mô hình hợp pháp hóa và phi tội phạm hóa bởi vì các văn bản liên quan đến vấn đề mại dâm và cơ chế quản lý bộ, ngành hiện nay ở Việt Nam còn nhiều bất cập và chồng chéo. Nguồn lực hạn chế cũng là một nhân tố cản trở để cải cách luật theo hướng hợp pháp hóa mại dâm. Xét về khía cạnh văn hóa, mại dâm cũng chưa thể coi là một nghề vì việc này trái với thuần phong mỹ tục quốc gia. Chính vì vậy một cơ chế luật mới về mại dâm phải đáp ứng đủ ba điều kiện: tiên tiến nhưng phải phù hợp về văn hóa và phù hợp với tình hình thực tế.

Xem ra mô hình luật pháp thứ tư (không truy tố) mà Thái Lan đang áp dụng có thể là mô hình phù hợp nhất đối với Việt Nam hiện nay. Nếu vậy, Việt Nam cần có một cơ chế giám sát thực thi luật pháp một cách hiệu quả và minh bạch, đồng thời cân nhắc kỹ lưỡng bối cảnh văn hóa vùng, miền.

(*) (Đây là quan điểm cá nhân của tác giả)

TS NGUYỄN TRẦN LÂM

Thái Lan: “100% bao cao su”

Đã có thời kỳ Thái Lan được xem là một điển hình trong công tác phòng chống HIV/AIDS khi quá thành công trong việc giảm số ca nhiễm mới. Nhưng thành công quá lớn đã khiến người Thái quá tự tin và chủ quan - ông Patrick J. Brenny, Giám đốc Văn phòng UNAIDS tại Thái Lan khi ấy, nhận định. Năm 2006, số ca nhiễm mới đã đột ngột tăng lên 17.000 ca.

Năm 2007, Thái Lan phải huy động tổng lực sự can thiệp từ các lực lượng trong xã hội, đặc biệt là liên kết chặt chẽ bộ ba: truyền thông - chính phủ - các tổ chức phi chính phủ. Bộ Y tế công cộng Thái Lan đã tận dụng nhiều kênh tuyên truyền để thay đổi hành vi cho thanh niên. Chẳng hạn vào các dịp lễ như Valentine, một số mạng di động đã gửi tin nhắn tư cho các thuê bao khuyến khích sử dụng bao cao su (BCS) khi quan hệ tình dục.

Tháng 4-2007, chương trình “100% BCS” từng được thực hiện chủ yếu tại các nhà chứa đã được khôi phục và hướng đến toàn xã hội. Mọi người có thể mua BCS trên xe taxi, siêu thị, tiệm vàng hay tại 5.000 máy bán BCS tự động được đặt trong toilet của các nhà hàng, siêu thị.

(Theo SGGP, tháng 11-2007)

THANH MẬN ghi

Chia sẻ lên LinkHay.com Email In [+]Cỡ chữ[-]
Thăm dò ý kiến
  • Theo bạn nên xử lý phó chánh án nằm chung võng với thuộc cấp nữ thế nào?
  • Xử hình sự cả hai người
  • Xử hình sự và đuổi việc cả hai người
  • Đuổi việc cả hai người
  • Cách chức, cảnh cáo phó chánh án
  • Cảnh cáo cả hai người
  • Xử lý hành chính cả hai người
  • Kiểm điểm rút kinh nghiệm cả hai người
  • Không cần xử lý vì không vi phạm quy định nào cả
  • Ý kiến khác