Câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập được soạn thảo rất cẩn thận, Hồ Chí Minh trích dẫn câu nói nổi tiếng của Thomas Jefferson, Tổng thống của nước Mỹ đế quốc, về nhân quyền, tự do và bình đẳng. Nội các đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng có gần một nửa số ghế thành viên thuộc về những người không phải là cộng sản.
Dân vận…
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác vận động tuyên truyền ngay từ thời Mặt trận Việt Minh đã rất tốt. Trước và sau ngày khởi nghĩa cướp chính quyền tại Hà Nội (19-8-1945), người dân nô nức tham gia Việt Minh và mong muốn được trở thành đảng viên cộng sản. Bà Lê Thi, tức Dương Thị Thoa, con gái cố GS Dương Quảng Hàm, kể lại: “Hồi đó hầu như ai ai cũng ghi danh xin đăng ký vào một tổ chức nào đó của Việt Minh, như là Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc…”
Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Người dân ở đô thị thực hiện sơ tán về nông thôn, một số gia đình khá giả ở nội thành đã đem theo ôtô riêng. Vì không nắm vững chủ trương, chính sách nên một số đơn vị và địa phương đã tự ý trưng thu, trưng dụng xe cộ của dân. Trước tình hình đó, ngày 17-2-1946, Cục Chính trị ra thông tri gửi toàn quân, trong đó nhấn mạnh phải làm theo đúng khẩu hiệu “Vì dân và cùng dân kháng chiến”. Thông tri nêu rõ: “Chỉ cần thiết lắm mới dùng đến quyền hạn trưng thu, trưng dụng, trưng tập nhưng cách dùng quyền hạn đó sao cho khéo léo, được việc chung mà dân chúng không bất bình”, “Nghiêm trị những kẻ lợi dụng làm bậy phá hoại công tác bảo vệ dân chúng của chúng ta”.

Bữa tiệc của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiêu đãi Hoàng thân Lào Xuphanuvông (từ Vinh ra Hà Nội) và Bảo Đại (từ Huế ra Hà Nội) tại Bắc Bộ phủ, tháng 9-1945 (người thứ ba ngả về phía sau và thứ năm hàng bên phải, từ trong ra).
… Và địch vận
Đảng và Chính phủ xem là phần quan trọng trên mặt trận chính trị, theo tinh thần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng địch càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng địch là nhờ địch vận”.
Ngay từ Đại hội lần thứ nhất của Đảng, tháng 3-1935, nghị quyết về công tác địch vận đã cho thấy Đảng đã có một nhận định nhân văn và sáng suốt: Binh lính không phải là nghịch thù của giai cấp công nông mà là con em của công nông và là một lực lượng cách mạng rất lớn, nếu Đảng không tổ chức được họ, không kéo được họ về phía mình thì cách mạng sẽ không thể thành công.
Đảng chủ trương biệt đãi với tù binh, coi đó là công tác chính trị, ra nghiêm lệnh cho bộ đội không được giết tù binh. Hàng binh người Âu được chăm sóc chu đáo, giao cho họ những việc thích hợp với năng lực để tận dụng khả năng của họ, giác ngộ chính trị cho họ để tạo ra một lực lượng “bộ đội ngoại quốc” chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam… Với chính sách tiến bộ này, trong những năm kháng chiến chống Pháp, đã có những người châu Âu đảo ngũ sang phía Việt Minh và rồi thật sự trở thành người bạn của Việt Nam.
Nhìn lại, công tác dân vận, địch vận thực sự đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử khó khăn nhất. “Ba đoàn một tan” (đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế, làm tan rã kẻ thù) khẳng định bài học có tính chất chân lý: Người lãnh đạo hết lòng vì đại đoàn kết dân tộc, lấy thu phục nhân tâm làm trọng sẽ có được sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc đấu tranh với bất kỳ kẻ thù nào.

Ảnh dưới: Các thành viên trong Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Đại hội Hòa bình thế giới tại Vácsava (11-1950).
Độc lập, tự chủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định rằng bí quyết đảm bảo sự sống còn của một dân tộc là ở khía cạnh chính trị và ngoại giao nhiều hơn là quân sự.
Những năm đầu lập quốc, nước Việt Nam mới non trẻ rất cần sự ủng hộ về mặt chính trị và vật chất từ bên ngoài để tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của mình. Nhiều nỗ lực vận động được tiến hành nhằm vào cả Trung Quốc và Liên Xô.
Tác giả William J. Duiker, tác giả cuốn Ho Chi Minh- A Life, phát hiện một chi tiết rất nhỏ là tháng 8-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Staline một bức thư cảm ơn sự ủng hộ của Liên Xô đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cuộc chiến với Tưởng Giới Thạch. Bằng những lá thư lạ lùng như vậy, ông ghi thêm điểm vào mối quan tâm của hai nước cộng sản lớn và Việt Nam dần được họ coi là đồng minh. Trong tháng 1-1950, lần lượt cả Trung Quốc, Liên Xô chính thức công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thậm chí Staline thay đổi hẳn thái độ bằng tuyên bố với Hồ Chí Minh: “Chúng tôi quan tâm tới Việt Nam như với Trung Quốc. Từ nay, đồng chí có thể tin tưởng ở sự giúp đỡ của chúng tôi, đặc biệt vào lúc này sau cuộc chiến tranh, chúng tôi còn nhiều hàng hóa dư thừa, chúng tôi sẽ chuyển tới cho các đồng chí qua Trung Quốc”.
Kể từ đây, Việt Nam được sự công nhận của hai nước XHCN lớn nhất, đồng thời được cam kết viện trợ quân sự và kinh tế từ cả hai nước này - điều cần thiết và kịp thời cho hoàn cảnh lúc đó, khi kháng chiến chống Pháp kéo sang năm thứ tư và Việt Minh có biểu hiện kiệt quệ về kinh tế.
|
Chân thành, khéo léo trong ngoại giao
Nhiều tài liệu về lịch sử ngoại giao cho thấy thời điểm đó cả Liên Xô và Trung Quốc đều hết lòng viện trợ cho Việt Nam.
Trong hoàn cảnh ấy, trên cơ sở xác định rõ lợi ích riêng của mỗi nước trong quan hệ với Việt Nam, Đảng đã khéo léo giữ gìn tình hữu nghị với cả hai nước lớn, đặc biệt nhấn mạnh vào mục tiêu đánh bại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, bảo vệ tiền đồn của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á.
Một cán bộ ngoại giao thời đó kể lại, điểm quan trọng trong chính sách đối ngoại của ta khi ấy là cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô, tuyệt đối không tỏ ra thiên vị đối với bất kỳ bên nào. Từ điện chúc mừng, điện cảm ơn tới các diễn văn và phát biểu trên báo chí đều phải cẩn trọng. Tờ Nhân Dân - cơ quan ngôn luận của Đảng thường xuyên phải nhắc tới quan chức cấp cao của cả hai nước với liều lượng và vị trí sắp xếp bài và ảnh tương đương nhau. Trong các hoạt động ngoại giao, Việt Nam cũng tránh tham gia những sự kiện của bên này nếu bên kia không tán thành. Chẳng hạn, Trung Quốc muốn triệu tập “Hội nghị 11 đảng cộng sản gần Trung Quốc”, hay Liên Xô “Họp 75 đảng cộng sản và công nhân”, Việt Nam đều từ chối tham dự.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo, tránh thể hiện chính kiến về những sự vụ có tính chất nội bộ của Trung Quốc, Liên Xô. Thời Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc nhiều lần yêu cầu Việt Nam phát biểu lập trường ủng hộ. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng đây là cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ của Trung Quốc, Việt Nam không thể ủng hộ nhưng cũng không thể khuyên can. Vậy tốt nhất là không bày tỏ thái độ. |
ĐOAN TRANG